Giới thiệu chung

Được sự hỗ trợ của Chương trình cứu trợ khẩn cấp về phòng chống HIV/AIDS của Tổng thống Hoa Kỳ (PEPFAR) và Cục Quản lý lạm dụng Chất gây nghiện và Sức khoẻ tâm thần (Substance Abuse and Mental Health Services Administration- SAMHSA) , từ năm 2011 Trường Đại học Y Hà Nội hợp tác với Chương trình Điều trị Nghiện chất Lồng ghép (Integrated Substance Abuse Program- ISAP) thuộc Đại học UCLA ( Hoa Kỳ) triển khai dự án Trung tâm Chuyển giao Công nghệ Điều trị nghiện chất phòng chống HIV (VHATTC) với mục tiêu xây dựng năng lực bền vững về điều trị rối loạn sử dụng chất góp phần giảm tác hại của lạm dụng chất và HIV lên cuộc sống cá nhân và cộng đồng. VHATTC thuộc mạng lưới các Trung tâm chuyển giao công nghệ điều trị nghiện chất (ATTC) do SAMHSA khởi xướng và hỗ trợ. Ban cố vấn của VHATTC có đại diện của các tổ chức có vai trò quan trọng trong hoạt động điều trị nghiện chất và phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam.  

Theo báo cáo của Bộ Y tế, tính đến 30 tháng 9 năm 2014, trên toàn quốc có 224.223 người nhiễm HIV còn sống, trong đó có gần 70.000 người đã chuyển sang giai đoạn AIDS, và đã có hơn 70.000 người tử vong do HIV/AIDS. Mặc dù trong những năm gần đây lây truyền qua đường tình dục ngày càng gia tăng mạnh mẽ, lây nhiễm qua tiêm chích ma tuý không an toàn vẫn là nguyên nhân chủ yếu. Có gần 40% người được phát hiện nhiễm HIV là người tiêm chích ma tuý. Rất nhiều trường hợp lây nhiễm qua đường tình dục là bạn tình của người đã từng tiêm chích ma tuý. Vì vậy tiêm chích ma tuý không an toàn đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển và tiếp tục duy trì dịch HIV tại Việt Nam.  Mặt khác diễn biến của việc sử dụng ma tuý ở Việt Nam ngày càng phức tạp trong đó việc sử dụng các chất ma tuý tổng hợp như ma tuý đá (crystal methamphetamine), ecstasy (MDMA) hay ketamine là những chất có ảnh hưởng lâu dài đến sức khoẻ (bao gồm nguy cơ lây nhiễm HIV do quan hệ tình dục không an toàn) ngày càng trở nên phổ biến hơn trong giới trẻ ở các thành phố lớn.

Chương trình Điều trị thay thế bằng Methadone

Tính đến tháng 10/2014, cả nước có 122 cơ sở điều trị thay thế nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone cho hơn 21.000 người sử dụng heroin tại 38 tỉnh thành phố. Theo kế hoạch của Bộ Y Tế, đến hết năm 2015, 80.000 bệnh nhân sẽ được điều trị trong chương trình methadone. Đánh giá tác động của chương trình methadone năm 2009 cho thấy hầu hết cơ sở điều trị đều thu nhận đủ chỉ tiêu bệnh nhân, tỉ lệ duy trì trong điều trị, giảm hành vi nguy cơ HIV đều cao. Các nghiên cứu khác cũng cho thấy hiệu quả điều trị tích cực thể hiện trong thay đổi hành vi (bao gồm cả hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV) và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân methadone. Tỉ lệ tiêm chích ma túy trên bệnh nhân methadone giảm từ 87% xuống còn 56% chỉ sau 9 tháng điều trị methadone, 96% bệnh nhân methadone báo cáo thường xuyên sử dụng bao cao su. Chính phủ Việt Nam hiện đang ở thời điểm giữa hai giai đoạn của chương trình mở rộng điều trị methadone 5 năm 2011 – 2015. Giai đoạn một đến hết 2012: mở thêm 55 cơ sở điều trị methadone tại 11 tỉnh thành mới, có tỉ lệ nhiễm HIV do tiêm chích ma túy cao nhất. Giai đoạn hai, từ 2013 đến 2015, tăng tổng số cơ sở điều trị methadone lên 245 cơ sở với khả năng điều trị cho 80.000 bệnh nhân tại 30 tỉnh thành trên cả nước. Ngoài các cơ sở điều trị có đầy đủ cán bộ và cơ sở vật chất, chính phủ Việt Nam cũng phê duyệt kế hoạch mở 500 điểm cấp phát thuốc tại các trung tâm y tế xã tại khu vực nông thôn và vùng sâu vùng xa của 30 tỉnh nói trên.

Một trong những thách thức của các chiến lược quan trọng nói trên là việc đảm bảo đội ngũ cán bộ đáp ứng được các tiêu chuẩn về chuyên môn và được đào tạo cơ bản cũng như liên tục. Trong thời gian qua, Bộ Y tế Việt Nam phối hợp với sự hỗ trợ của PEPFAR, Quỹ Toàn Cầu, Ngân Hàng Thế giới thông qua các tổ chức như FHI360 và SCMS đã tổ chức các khoá tập huấn về điều trị thay thế bằng Methadone đáp ứng bước đầu nhu cầu phát triển của chương trình. Tuy nhiên các hoạt động này còn chưa gắn với hệ thống đào tạo y khoa và y tế công cộng ở Việt Nam, và sự tham gia của các cơ sở thực hành khám chữa bệnh ví dụ như hệ thống bệnh viện của ngành tâm thần còn hạn chế. Trong bối cảnh đó, Trung tâm Nghiên cứu và Chuyển giao Công nghệ Điều trị Nghiện chất ra đời đang từng bước nâng cao năng lực cho các cán bộ trong lĩnh vực điều trị nghiện, kết nối giữa đào tạo và thực hành, giữa các cơ sở điều trị với cơ sở đào tạo nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu phát triển nhanh chóng và bền vững lĩnh vực điều trị nghiện tại Việt Nam. Mục đích của dự án và trung tâm là xây dựng năng lực đào tạo trước mắt để phục vụ cho việc mở rộng chương trình điều trị thay thế bằng Methadone và lâu dài hơn là xây dựng năng lực về y học nghiện nói chung và nghiện chất nói riêng tại Trường Đại học Y Hà Nội, góp phần vào việc kiểm soát lây nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam.

 Nhu cầu nhân lực điều trị nghiện chất trong tương lai

Hai chính sách lớn có tác động lớn tới sự phát triển nhân lực điều trị nghiện trong tương lai gần của Việt Nam là Quyết định số 2596/QĐ-TTg ngày 27 tháng 12 năm 2013 và Cam kết chính trị về HIV/AIDS năm 2011 của Chính phủ Việt Nam đặt mục tiêu điều trị cho 80000 người nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế đến năm 2015. Quyết định 2596/QĐ-TTg phê duyệt Đề án đổi mới công tác cai nghiện tại Việt Nam đến năm 2020, với yêu cầu đổi mới căn bản các trung tâm 06 để cung cấp điều trị toàn diện (bao gồm cả điều trị bằng thuốc thay thế) và tự nguyện. Quyết định này cũng yêu cầu mở rộng và đổi mới hệ thống điều trị tại cộng đồng, bao gồm mở rộng số lượng các cơ sở điều trị methadone và dịch vụ hỗ trợ toàn diện cho người sử dụng ma túy do tình nguyện viên và nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp cung cấp. Những đổi mới này trong kế hoạch của chính phủ sẽ biến đổi căn bản công tác điều trị nghiện và tạo ra nhu cầu lớn để phát triển nguồn nhân lực điều trị. Bộ Y Tế Việt Nam ước tính đến 2015, số cán bộ điều trị thay thế nghiện chất dạng thuốc phiện bằng methadone cần được đào tạo là khoảng 5000 người để có thể đảm bảo nhân sự cho các cơ sở điều trị methadone hoạt động hiệu quả.

Bên cạnh nhu cầu đào tạo nhân lực mới cho chương trình là nhu cầu đào tạo lại và đào tạo nâng cao. Với sự hỗ trợ của Chương trình điều trị lạm dụng chất lồng ghép, Đại học California, Los Angeles, năm 2012 và 2014, VHATTC đã tiến hành hai cuộc đánh giá nhu cầu đào tạo nhằm xác định các khoảng trống cần đáp ứng khi xây dựng năng lực dự phòng HIV/AIDS và điều trị nghiện cho cán bộ làm việc tại cơ sở điều trị Methaodone. Các đánh giá này cho thấy đội ngũ cán bộ mới của chương trình điều trị methadone còn rất hạn chế về kiến thức cũng như chưa được đào tạo về điều trị nghiện và HIV; đồng thời cũng cho thấy nhu cầu chuyên nghiệp hóa lĩnh vực điều trị nghiện thông qua đưa điều trị nghiện vào đào tạo chính khóa cử nhân và đào tạo cao học trong các trường đại học, cao đẳng y khoa và công tác xã hội.