Thứ hai, 29/02/2016 | 16:10

So sánh hiệu quả điều trị giữa bệnh nhân nhiễm HIV qua đường tiêm chích và bệnh nhân nhiễm HIV qua đường tình dục: tiếp cận điều trị muộn, bắt đầu điều trị kháng virus muộn và tỉ lệ tử vong cao hơn.

So sánh hiệu quả điều trị giữa bệnh nhân nhiễm HIV qua đường tiêm chích và bệnh nhân nhiễm HIV qua đường tình dục: tiếp cận điều trị muộn, bắt đầu điều trị kháng virus muộn và tỉ lệ tử vong cao hơn.

Suárez-García I1, Sobrino-Vegas P2, Dalmau D3, Rubio R4, Iribarren JA5, Blanco JR6, Gutierrez F7, Montero Alonso M8, Bernal E9, Vinuesa García D10, Del Amo J2; CoRIS.

Thông tin tác giả

1Infectious Diseases Unit, Department of Internal Medicine, Hospital Universitario Infanta Sofía, San Sebastián de los Reyes, Madrid, Spain.

2Centro Nacional de Epidemiología, Instituto de Salud Carlos III, Madrid, Spain.

3Hospital Universitari Mutua Terrassa, Terrassa, Spain.

4Unidad Infección VIH, Hospital Universitario Doce de Octubre, Madrid, Spain.

5Department of Infectious Diseases, Hospital Universitario Donostia, Donostia, Gipuzkoa, Spain.

6Department of Infectious Diseases, Hospital San Pedro-CIBIR, Logroño, Spain.

7Infectious Diseases Unit, Hospital General de Elche & Universidad Miguel Hernández, Elche, Alicante, Spain.

8Department of Infectious Diseases, Hospital Universitario La Fe, Valencia, Spain.

9Hospital Reina Sofía, Murcia, Spain.

10Unidad de Gestion Clínica de Microbiología y Enfermedades Infecciosas, Hospital Clínico San Cecilio, Granada, Spain.

 

TÓM TẮT

MỤC ĐÍCH:

So sánh bệnh nhân nhiễm HIV qua đường tiêm chích ma túy (HIV-IDU) với bệnh nhân nhiễm HIV qua đường tình dục (HIV-ST) về tiếp cận điều trị muộn, bắt đầu điều trị kháng virus muộn, đáp ứng về virus và miễn dịch đối với ART, tỉ lệ tử vong và tiến triển thành AIDS.

THIẾT KẾ:

Nghiên cứu thuần tập tiến cứu đa trung tâm trên người nhiễm HIV chưa điều trị ART tại thời điểm đầu vào (CoRIS).

ĐỊA ĐIỂM:

31 trung tâm trong hệ thống y tế công của Tây Ban Nha.

ĐỐI TƯỢNG:

9355 bệnh nhân (1064 HIV-IDU và 8291 HIV-ST) trong giai đoạn 2004-2013.

ĐO LƯỜNG:

Chúng tôi so sánh tiếp cận điều trị muộn (theo định nghĩa là đến cơ sở y tế khi CD4 <350/µl và/hoặc có bệnh lý do AIDS), bắt đầu điều trị ART muộn (theo định nghĩa là bắt đầu điều trị ngoài 6 tháng sau ngày điều trị được chỉ định theo hướng dẫn, hoặc hoàn toàn không bắt đầu điều trị khi được chỉ định), đáp ứng về virus và miễn dịch với ART (theo định nghĩa là tải lượng virus < 50 HIV-1 RNA copy/ml và số CD4 tăng ít nhất 100 tế bào/µl, sau 1 năm điều trị), tử vong và tiến triển thành AIDS trên nhóm HIV-IDU và HIV-ST.

KẾT QUẢ:

So với nhóm HIV-ST, bệnh nhân HIV-IDU có nguy cơ tiếp cận điều trị muộn cao hơn (OR:1.76; 95%CI:1.41-2.18), bắt đầu điều trị ART muộn (OR:1.87; 95%CI:1.46-2.40), và tỉ lệ tử vong cao hơn (HR:1.43; 95%CI:1.03-2.01) và nguy cơ tiến triển thành AIDS (SHR:1.68; 95%CI:1.29-2.18). Trong nhóm không nhiễm HCV, bệnh nhân HIV-IDU giảm tải lượng virus ít hơn bệnh nhân HIV-ST (OR:0.59; 95%CI:0.36-0.95); trong nhóm nhiễm HCV, không có sự khác biệt có ý nghĩa về giảm tải lượng virus giữa HIV-IDU và HIV-ST. Không khác biệt có ý nghĩa về đáp ứng miễn dịch sau khi điều chỉnh yếu tố nhiễm HCV (OR:0.74; 95%CI:0.52-1.06).

KẾT LUẬN:

Tại Tây Ban Nha, bệnh nhân nhiễm HIV qua đường tiêm chích ma túy dường như có nguy cơ cao hơn trong tiếp cận điều trị muộn, bắt đầu điều trị kháng virus muộn, tiến triển thành AIDS và tử vong so với bệnh nhân nhiễm HIV qua đường tình dục.

Để xem nội dung gốc, xin mời nhấn vào ĐÂY